Chương 6: Xuất dữ liệu

Trở về Mục lục cuốn sách

Giới thiệu

Cuốn sách của Mark Monmonier với tựa đề How to Lie with Maps (Làm thế nào để lừa dối bằng những tấm bản đồ), đã vạch trần cách mà những cá nhân và tổ chức cố ý làm biến dạng những địa vật trên bản đồ một cách quá đáng để lừa dối. Khái niệm bao trùm cuốn sách này là tất cả bản đồ đều nói dối—ở một mức độ nhất định. Điều đó có thật. Như bạn đã đọc trong Chương 3, các phép chiếu đều gây nên biến đổi hình dạng, diện tích, khoảng cách, và phương hướng. Ngoài ra, mọi bản đồ đều đơn giản hóa thế giới thực và do đó đã lừa dối bằng cách lược bỏ. Các biểu tượng trên bản đồ phóng đại hoặc giảm nhỏ kích thước của địa vật. Tất cả điều này đều có thể được coi là lừa dối. Bây giờ, trước khi bạn ngừng đọc và vứt bỏ những tờ bản đồ như thứ phù phiếm, thì hãy nhớ rằng tất cả những mô hình của thực tại (tranh vẽ, văn chương, toán học, hình chụ) đều là trừu tượng hóa và do đó đều lừa dối ở mức độ nhất định; và nhờ sự lược bớt cùng trừu tượng hóa đó giúp cho việc giao tiếp trở nên thuận lợi, dễ hiểu hơn. Nói đơn giản, bản đồ trợ giúp việc chuyển tải thông tin bằng cách nhấn mạnh vị trí của địa vật (và bỏ qua nhiều đieạ vật khác) để phác họa những dạng mẫu trong không gian. Như Monmonier đã viết, “Một tấm bản đồ tốt cho ta biết nhiều điều dối trá vô hại nho nhỏ; nó kìm hãm sự thật để giúp người xem thấy được điều cần phải thấy” (1996, tr. 25).

Có những người lập bản đồ đã làm biến dạng địa vật một cách hợp lý để nâng cao khả năng truyền đạt thông tin, và họ có thể làm điều này hợp lệ. Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất về việc chỉnh sửa kích thước và vị trí địa vật là tấm bản đồ Tàu điện ngầm ở London, trong đó làm thay đổi chiều dài tuyến đường ngầm và vị trí nhà ga, nhưng bằng cách đó, lại nâng cao hiểu biết không gian của chúng ta về hệ thống ngầm này (xem Hình 6.1).  Harry Beck, người lập bản đồ nói trên, đã dành cả đời để lập nên tấm bản đồ thân thiện với người dùng này. Ông đã thiết kế tấm bản đồ chỉ bằng những nét ngang, dọc, và nghiêng 45 độ để nhấn mạnh vị trí tương đối của các nhà ga thay vì gắn chặt với độ chính xác không gian. Khoảng cách giữa các nhà ga ở ngoại thành được co ngắn lại để dành chỗ trên bản đồ cho nhà ga khu trung tâm thành phố. Ông đã hiểu rõ rằng cộng đồng người đi tàu nhìn nhận mạng lưới tầu điện là những bến đỗ và các đường nối, trạm trung chuyển, chứ không phải chiều dài đoạn đường. Tấm bản đồ này truyền đạt rõ những thông điệp đó, và được nhiều cơ quan giao thông học theo.

Hình 6.1: Bản đồ tàu điện ngầm London. Courtesy of London Regional Transport, 1991.

Chương này tập trung vào kết quả đầu ra của GIS và cụ thể hơn là bản đồ cùng với việc thiết kế chúng. Nếu mục tiêu của bạn là sự chính xác và truyền đạt rõ ràng, vốn là điều cần có, thì bạn phải xét đến những vấn đề đã trình bày, như phép chiếu và tỉ lệ (các Chương 2 và 3) cũng như những chủ đề sẽ được đề cập trong chương này, bao gồm việc dùng kí hiệu, phân loại, khái quát hóa, và màu sắc.

Truyền đạt thông tin bản đồ

Hiệp hội bản đồ quốc tế (International Cartographic Association, ICA) định nghĩa bản đồ là một “cách biểu diễn, thường với một tỉ lệ, trên một mặt phẳng, gồm một tập hợp nguyên liệu hay vật thể trừu tượng có trên, hoặc liên quan đến bề mặt Trái đất.”  Nói cách khác, bản đồ là một sự xấp xỉ, một mô hình, một bản tóm tắt của thế giới thực.

Bản đồ truyền đạt thông tin; chúng biểu diễn và giúp ta tổ chức kiến thức qua việc biểu diễn một phần của bề mặt đất.Chúng được lập nên để chuyển tải thông tin không gian đến người xem; dù vậy hầu hết các bản đồ đều không được thiết kế đúng và không truyền đạt được dễ dàng, hiệu quả.Đây không phải là lỗi của người xem bản đồ.Lỗi thuộc về người lập bản đồ.Để thiết kế được những tấm bản đồ tốt hơn, hãy xét đến quá trình truyền đạt thông tin bản đồ qua bốn giai đoạn (xem Hình 6.2):1) Thế giới thực, 2) Lựa chọn, 3) Khái quát hóa, và 4) Bản đồ.

Hình 6.2: Quá trình truyền đạt thông tin bản đồ.

Hình 6.2: Quá trình truyền đạt thông tin bản đồ.
Thế giới thực → Lựa chọn → Khái quát hóa → Bản đồ

Thế giới thực
Như đã mô tả ở Chương 1, thế giới thực quá phức tạp để có thể phân tích và hiểu trực tiếp, nên ta lập nên những mô hình của thế giới bằng cách chọn lựa và khái quát hóa một số đặc điểm của nó. Tuy vậy, hãy hình dung rằng ta có thể ghi lại vô số chi tiết của thế giới lên tấm bản đồ. Lewis Carroll, tác giả truyện Alice in Wonderland, đã mô tả một bản đồ chi tiết như vậy trong Sylvie and Bruno Concluded.  Ở câu truyện hư cấu này, một giáo sư giải thích cho người khác biết rằng những người làm bản đồ xứ sở đó đã thử nghiệm những tấm bản đồ ngày càng lớn ra sao. Giáo sư nói rằng, “Và rồi đến ý tưởng lớn nhất! Chúng tôi đã làm một tấm bản đồ cho cả đất nước, với tỉ lệ một dặm trên giấy ứng với một dặm đường!”  “Ông có hay dùng bản đồ đó không?” người kia hỏi lại.”   Không, giáo sư đáp, “Nó chưa từng được trải ra” … “các nhà nông phản đối: họ nói rằng tấm bản đồ đó sẽ bao phủ cả đất nước, và che ánh mặt trời! Vì vậy bây giờ chúng tôi dùng chính đất nước làm bản đồ, và tôi đảm bảo với anh rằng nó cũng phát huy được công dụng gần như trọn vẹn.”

Trên thực tế, “chính đất nước” là một lựa chọn thay thế rất dở cho tấm bản đồ. Nếu ta dùng chính thế giới thực để chỉ dẫn, thì đã chẳng cần đến bản đồ rồi. Mỗi tấm bản đồ lựa chọn ra, và khái quát, những địa vật trên thế giới, và những điều “lừa dối vô hại” này giúp cho bản đồ truyền đạt được thông tin.

Lựa chọn
Bản đồ có tính lựa chọn. Bạn quyết định xem cần lấy thứ gì, và không kém phần quan trọng, bỏ qua những thứ gì để đưa vào bản đồ. Nếu địa vật nào không giúp cho mục đích của bản đồ, hay không định hướng cho người xem, hãy bỏ nó đi. Mỗi loại địa vật cần có lý do riêng để giải thích cho sự xuất hiện của nó trên bản đồ. Việc lựa chọn được thực hiện theo hai yếu tố chỉ dẫn: mục đích của bản đồ và tỉ lệ của nó.

Bạn lập bản đồ nhằm mục đích gì? Bạn cần truyền đạt thông điệp gì? Những người xem là ai? Việc trả lời những câu hỏi này sẽ giúp bạn quyết định nên đưa bao nhiêu chi tiết lên tấm bản đồ. Nếu chọn quá nhiều kiểu địa vật sẽ che mất mục tiêu chính của bản đồ.

Tỉ lệ là mối quan hệ giữa khoảng cách trên bản đồ giấy (hay trên màn hình) và khoảng cách tương ứng ngoài thực tế. Đó là yếu tố chính để xác định xem cần chọn những địa vật nào và bỏ qua địa vật nào. Hãy tự hỏi, bản đồ cần được trình bày thế nào trước mắt người xem? Liệu nó sẽ nằm trên tờ giấy A4, trên một cột bài báo rộng 8 cm; hay trên màn hình chiếu? Kích thước thực của bản đồ được trình bày sẽ ảnh hưởng lớn đến lượng thông tin chi tiết cần được hiển thị trên bản đồ. Tỉ lệ được dùng không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa vật mà còn đến mức độ khái quát hóa.

Khái quát hóa
Dữ liệu địa lý và thông tin chi tiết là không có giới hạn. Nếu bạn bay trên bầu trời một thành phố, bạn sẽ thấy những địa vật định hình chung của cả thành phố và những vùng lân cận chủ yếu của nó. Khi bạn hạ cánh xuống một vùng lân cận, những ngôi nhà, phố xá, xe hơi, và vỉa hè sẽ hiện lên rõ ràng. Hạ xuống sân sau một khu nhà, bạn thấy được bể bơi, vườn rau, bàn ghế, và cây cầu nhỏ. Thấy rõ cả chó, mèo. Lấy chiếc kính lúp ra và soi từng thớ gỗ của cây cầu đó, bạn thấy được màu sắc, vân gỗ, dằm gỗ, độ gồ ghề của nó. Để nắm giữ được tất cả những vật thể của thế giới thực cùng chi tiết về chúng, bạn phải cần đến một cơ sở dữ liệu lướn vô hạn và thời gian dài vô cùng.

Những địa vật được bạn chọn cần phải khái quát hóa, nhưng chúng nên chứa bao nhiêu thông tin? Cùng kích thước tờ bản đồ, thì tấm bản đồ tỉ lệ lớn miêu tả những vùng nhỏ với chi tiết kĩ hơn. Sau đây là một số công đoạn khái quát hóa để giúp bản đồ dễ đọc và hiệu quả hơn:

  1. Làm trơn địa vật.  Chẳng hạn, xóa những đoạn gấp khúc của dòng sông hoặc đường phố. Bản đồ tàu điện ngầm London của Beck (Hình 6.1) đã làm trơn và bẻ thẳng nhiều tuyến đường ngầm, để làm cho mạng lưới trực quan hơn đối với người đọc.
  2. Trừu tượng hóa địa vật.  Từng chi tiết đều có sức thu hút người xem. Trừu tượng hóa nhằm bỏ đi những chi tiết này. Nhờ đó, một đường phố trở thành đường thẳng. Một mặt bằng của một toàn thư viện thành một hình vuông tô màu đen.
  3. Tổng hợp địa vật.  Một số địa vật có thể được gộp lại để làm chúng lu mờ đi. Chẳng hạn, biểu diễn nhiều tòa nhà trường học bằng một kí hiệu duy nhất.
  4. Phóng đại địa vật.  Trong khi làm trơn, trừu tượng hóa, và tổng hợp nhằm làm lu mờ các địa vật, thì việc phóng đại sẽ giúp nhấn mạnh địa vật. Nếu địa vật quan trọng đối với mục tiêu của bản đồ, hãy phóng đại nó.
  5. Dịch chuyển địa vật. Đôi khi các địa vật cần được dịch chuyển, có thể là chút ít, để làm nó dễ nhìn hơn và bản đồ được đẹp và trực quan hơn. Chẳng hạn, Beck đã dịch chuyển vị trí các trạm tàu điện ngầm ở London.

Vai trò chính của bản đồ là để truyền đạt thông tin, và điều này không thể thực hiện được nếu không có chọn lựa và khái quát hóa. Dù vậy, người ta vẫn cảm thấy khó đọc bản đồ. Nếu bạn thấy bản đồ dễ đọc, thì đó là phần nào do bạn đã làm quen với bản đồ và quy ước của chúng. Một khi bạn hiểu được những quy ước này, việc đọc bản đồ trở nên dễ hơn và củng cố thêm sự hiểu biết đó.

Quy ước, một dạng của sự trừu tượng hóa, là những kí hiệu để giúp người đọc bản đồ. Những người lập bản đồ dựa vào quy ước để truyền đạt thông tin cho thật tốt. Một số quy ước gần như ai cũng hiểu được, chẳng hạn màu xanh dương dùng để vẽ đường sông suối hoặc tô màu biển, hồ. Người lớn ngầm hiểu rằng nước được kí hiệu bởi màu xanh này. Ngay cả trên những bản đồ in tiếng nước ngoài, bạn cũng có thể chỉ ra chỗ nào là nước phần lớn dựa vào màu sắc. Những đường nét trên bản đồ đường sá là một ví dụ khác. Chúng dễ dàng được hiểu là đường dù không hề có bề rộng, làn đường, gờ vỉa hè, hay hố cống thoát nước.

Dù vậy, những ví dụ phổ biến rộng khắp rất hiếm hoi. Văn hóa và ngành nghề có ảnh hưởng đến các người đọc diễn giải những quy ước. Chẳng hạn, màu đỏ, vốn biểu thị nguy hiểm (như đèn giao thông và lửa) và sự giận dữ ở các nước phương Tây, thì lại mang ý nghĩa can đảm, hạnh phúc, thành công, và Cộng sản ở Trung Quốc. Tuy vậy đa số những quy được được bắt nguồn từ các hiệp hội chuyên nghiệp, vốn phát triển những kí hiệu phức tạp, cả chính thống lẫn không. Chẳng hạn, ngành địa chất dùng cả những đường liền nét và đứt nét với kí hiệu kèm theo để chỉ các đứt gẫy thường, đứt gẫy gập-trượt, đứt gẫy trồi lên cùng những đặc tính đi kèm như foliation, bedding, và lineation.

Các loại bản đồ

Bản đồ là thành phẩm của quá trình truyền đạt thông tin địa lý. Có nhiều loại bản đồ, thường được chia thành hai nhóm: bản đồ đa dụng và bản đồ chuyên đề. Những bản đồ đa dụng cho thấy bị trí của đường sá, sông ngòi, trụ sở, và loại đất. Những bản đồ chuyên đề thì cho thấy những chủ đề cụ thể về kinh tế, xã hội, dân cư, chính trị, hoặc môi trường, như mật độ dân cư, phân bố tuổi, sự ủng hộ của người dân với đảng phái, thu nhập, hoặc bệnh sốt rét. Phần thảo luận dưới đây sẽ mô tả một số loại bản đồ chuyên đề thông dụng nhất cùng những điều kiện sử dụng chúng. Có thể sẽ hữu ích nếu bạn xem lại Chương 2, mục Kiểu dữ liệu (gồm những cấp độ đo) trước khi đọc tiếp mục dưới đây.

Bản đồ mật độ điểm chấm
Loại bản đồ này sử dụng những điểm chấm để thể hiện mật độ tương đối của những địa vật trên tờ bản đồ cơ sở (xem Hình 6.3).  Những điểm chấm đều cùng kích thước. Hầu hết các bản đồ điểm chấm đều theo dạng vector và thường không bắt nguồn từ những lớp điểm; mà các điểm chấm này được bắt nguồn từ những giá trị trong trường thuộc tính của lớp đa giác. Giá trị thuộc tính của từng đa giác quyết định số điểm chấm được hiển thị trong phạm vi đa giác đó. Chẳng hạn, nếu đa giác của bạn có giá trị 2223 con gia súc và bạn quyết định biểu thị 500 gia súc bằng một điểm chấm, thì trên bản đồ sẽ xuất hiện bốn điểm chấm rải rác ngẫu nhiên bên trong đa giác này.

Kiểu dữ liệu: Khoảng
Dạng địa vật: Đa giác (đôi khi là điểm)

6.3

Hình 6.3: Bản đồ mật độ điểm chấm.

Bản đồ đồng mức
Những tấm bản đồ đồng mức dùng các đường liên tục (đôi khi còn được gọi là đường đẳng trị) để chỉ những khoảng khác biệt trên một bề mặt liên tục. Đường đồng mức nối liền những nơi có cùng giá trị. Chúng yêu cầu tối thiểu phải có dữ liệu kiểu thứ tự, nhưng thường dùng cho dữ liệu dạng khoảng hoặc dạng tỉ số.

Có hai loại bản đồ đồng mức: Bản đồ “isometric” chứa dữ liệu tuyệt đối, dựa trên việc quét toàn bộ bề mặt. Ví dụ điển hình là ảnh vệ tinh. Những bản đồ “isometric” đại đa số là raster bởi bản chất liên tục của lớp. Loại thứ hai là bản đồ “isopleth”, tạo nên dữ liệu liên tục từ dữ liệu rời rạc. Nói cách khác, nó suy diễn một mặt liên tục từ những điểm đo sẵn (các vị trí trong một lớp điểm) (xem Hình 6.4).  Những ví dụ điển hình gồm có bản đồ nhiệt độ và lượng mưa. Các bản đồ thuộc loại này có thể dựa vào raster và vector.

Kiểu dữ liệu:  Khoảng hoặc Tỉ số (và đôi khi là kiểu Thứ tự)
Dạng địa vật: Raster hoặc điểm

Hình 6.4: Isoline map.

Hình 6.4: Bản đồ đồng mức.

Bản đồ kí hiệu to nhỏ
Bản đồ kí hiệu to nhỏ đặt những kí hiệu ở các vị trí khác nhau trên bản đồ, nhưng khác bản đồ điểm chấm, ở đây kích thước của kí hiệu thay đổi theo lượng hoặc độ lớn (xem Hình 6.5).  Thông thường một kí hiệu to nhỏ được phát sinh trong mỗi hình đa giác, và kích thước kí hiệu đó được quy định bởi giá trị thuộc tính của đa giác.  Giá trị càng lớn thì kí hiệu càng to.  Bản đồ loại này minh họa cho dữ liệu kiểu thứ tự hoặc khoảng. Những kí hiệu có thể là điểm tròn, ô vuông, hoặc bất kì hình dạng khác. Những lớp địa vật điểm cũng dùng được để tạo nên bản đồ kí hiệu to nhỏ.

Có hai loại bản đồ kí hiệu to nhỏ (cả hai đều dạng vector):  Bản đồ kí hiệu tỉ lệ, trong đó kí hiệu tương đương với lượng cần được biểu diễn. Bản đồ kí hiệu chia khoảng, trong đó định trước một số lớp và từng lớp có kích thước kí hiệu để biểu diễn độ lớn. Mỗi kí hiệu sẽ biểu diễn một khoảng giá trị, chứ không phải một giá trị nhất định.

Kiểu dữ liệu:  Thứ tự và khoảng
Dạng địa vật: Đa giác và điểm

Hình 6.5: Bản đồ kí hiệu to nhỏ.

Hình 6.5: Bản đồ kí hiệu to nhỏ.

Bản đồ Choropleth
Bản đồ Choropleth là dạng thông dụng và dễ nhận thấy nhất của bản đồ chuyên đề (xem Hình 6.6).  Chúng cho thấy các tỉ số, tỉ lệ, và số phần trăm được tổng hợp trong từng địa vật đa giác. Các bản đồ này dùng độ xám và màu để chỉ các giá trị thuộc tính của từng đa giác (hay điểm ảnh). Một bản đồ bầu cử, chỉ thị những sắc màu xanh lam hoặc đỏ—dựa theo phần trăm số phiếu bỏ cho một chính trị gia hoặc đảng phái—là một ví dụ. Cũng như bản đồ điểm chấm to nhỏ, các bản đồ choropleth có cả những loại dành cho dữ liệu tỉ lệ và khoảng, nhưng loại bản đồ choropeth đích thực chỉ dùng dữ liệu tỉ lệ. Những bản đồ “sắc” hoặc “màu” dùng số liệu định danh hoặc thứ tự.

Kiểu dữ liệu:  Tỉ lệ, tỉ số và số phần trăm
Dạng địa vật: Raster hoặc đa giác

Hình 6.6: Bản đồ choropleth.

Hình 6.6: Bản đồ choropleth.

Cartogram
Trong cartogram, đặc điểm hình học của những đa giác bị thay đổi để cho thấy độ lớn của dữ liệu (xem Hình 6.7).  Một giá trị cao bên trong một đơn vị địa lý (đa giác) nhỏ thông thường sẽ tạo nên một đơn vị địa lý lớn trên bản đồ vì kích thước của đa giác dựa theo giá trị thuộc tính của đa giác.  Có những loại cartogram khác nhau; chúng thay đổi theo mức độ mà đặc điểm địa lý được bảo lưu. Xét rộng ra, có hai loại cartogram:  Loại không liên tục là đơn giản và dễ lập nên nhất. Những đa giác không nhất thiết phải tiếp xúc nhau. Chúng có thể được phóng to hoặc thu nhỏ, chỉ cần giữ nguyên hình dạng. Loại liên tục thì duy trì sự tiếp xúc giữa các đa giác, nhưng để làm được điều này, thì hình dạng của đa giác phải thay đổi. Cartogram dựa trên vector, nhưng đa số các gói phần mềm thương mại đều không có chức năng tạo nên loại bản đồ này.

Kiểu dữ liệu:  Khoảng và Tỉ lệ
Dạng địa vật: Đa giác

Hình 6.7: Cartogram.

Hình 6.7: Cartogram.

Bản đồ luồng
Bản đồ luồng cho thấy sự di chuyển của hàng hóa, người, hoặc thông tin giữa những địa điểm (xem Hình 6.8). Thông thường, bản đồ loại này biểu thị dữ liệu dạng khoảng bằng cách thay đổi bề rộng đường nét nối giữa các điểm. Những loại bản đồ luồng đơn giản hơn có thể biểu diễn dữ liệu định danh hoặc thứ tự. Các bản đồ luồng đều dựa trên vector, nhưng đa số các gói phần mềm thương mại không có chức năng tạo nên bản đồ luồng phức tạp.

Kiểu dữ liệu:  Khoảng
Dạng địa vật: Đường

Hình 6.8: Flow map.

Hình 6.8: Bản đồ luồng.

Bản đồ mật độ
Bản đồ mật độ biểu thị mật độ các điểm (và ít gặp hơn, các đường) trên một bề mặt liên tục (xem Hình 6.9).  Về khái niệm, từng điểm trên lớp địa vật tỏa rộng ra xung quanh. Sau đó, từng ô trong hình ảnh raster tạo thành sẽ thực hiện tìm kiếm vòng tròn quanh chính nó để xác định xem có bao nhiêu điểm (hoặc đường thẳng) rơi vào trong phạm vi vòng tròn này. Bản đồ loại này thường biểu diễn số đếm địa vật, nhưng mật độ cũng có thể được suy diễn từ các trường thuộc tính của một trong số những lớp điểm.

Kiểu dữ liệu:  Khoảng
Dạng địa vật: Điểm

Hình 6.9: Density map.

Hình 6.9: Bản đồ mật độ.

Lập bản đồ chuyên đề

Những bản đồ được coi là thành công là những bản đồ được người xem hiểu rõ. Các chương trình GIS cho ta những cách làm nhanh và hiệu năng cao để lập bản đồ, nhưng không thường tạo nên những tấm bản đồ tốt. Nhiệm vụ của bạn là lập các bản đồ truyền đạt tốt thông tin. Sau đây là 14 quy tắc bạn nên cân nhắc khi lập bản đồ.

1. Chọn một kĩ thuật vẽ bản đồ hiệu quả.
Những bản đồ được mô tả ở trên đều chỉ định những dạng địa vật và kiểu dữ liệu nào là cần thiết để lập nên chúng. Có thể bạn cần phải thay đổi dạng địa vật (điểm, đường, đa giác, hoặc bề mặt raster) hay kiểu dữ liệu được dùng (định danh, thứ tự, khoảng, tỉ số, tốc độ, tỉ lệ, hoặc phần trăm) để dùng được một kĩ thuật lập bản đồ mong muốn, hoặc bạn có thể dùng kĩ thuật bản đồ thích hợp cho dữ liệu và địa vật hiện có.

Dù cho bản đồ choropleth là loại bản đồ chuyên đề thông dụng nhất, song chúng cũng thường bị dùng sai nhất. Thay vì dùng dữ liệu kiểu tốc độ, tỉ lệ hay phần trăm, thì các bản đồ này lại thể hiện dữ liệu số đếm (dữ liệu khoảng và tỉ số); điều này gây ấn tượng sai về sự phân bổ số liệu trên bản đồ. Vấn đề nằm ở chỗ những đơn vị địa lý nhỏ có thể có số đếm thấp còn đơn vị lớn thì có số đếm cao. Ngoài ra, sắc xám đậm trên vùng rộng nhìn bắt mắt hơn so với cùng sắc đó nhưng trên vùng nhỏ. Nếu bạn cần phải dùng số liệu số đếm, hãy chọn bản đồ kí hiệu to nhỏ.

2. Hiển thị dữ liệu.
Edward Tufte, trong cuốn sách của mình, The Visual Display of Quantitative Information (1983) [tạm dịch: Thể hiện thông tin định lượng bằng hình ảnh], có viết: “Above all else, show the data.” [Trên hết, phải hiển thị dữ liệu.] Mặc dù tác giả chủ yếu chỉ viết về thiết kế đồ họa, đây cũng chính là quy tắc quan trọng nhất trong thiết kế bản đồ. Bản đồ phải đưa người xem chú ý đến chất liệu—chủ đề—của chúng, chứ không đến thứ gì khác. Để “hiển thị dữ liệu”, bạn phải giãn rộng khung bản đồ càng nhiều càng tốt (gồm cả lớp bản đồ cơ sở và lớp chuyên đề). Sau đó, tập trung vào nét vẽ trên lớp chuyên đề. Trong tấm quảng cáo trên Hình 6.10, “dữ liệu”—chiếc bản đồ—được phóng to tối đa.

Hình 6.10: "Hiển thị dữ liệu."

Hình 6.10: “Hiển thị dữ liệu.”

Sau khung bản đồ, những thành phần quan trọng tiếp theo là tiêu đề và chú thích. Các thành phần này cần chiếm vị trí nghiêm chỉnh. Khi bạn mở tấm bản đồ ra, đầu tiên mắt sẽ nhìn vào khung bản đồ (cùng chủ đề của nó), tiêu đề, rồi đến chú thích (theo đúng thứ tự trên). Đầu tiên, hãy tạm coi rằng những thành phần quan trọng nhất cần được đặt ở gần trên cùng hoặc ngay ở lề trái của tờ giấy. Những thành phần kém quan trọng hơn, hay phụ trợ, có thể được đặt ở phía dưới hoặc về phía tay phải (xem bản đồ bên phải Hình 6.11).

3. Sự cân đối trong bản đồ.
Khi đã sắp xếp các thành phần theo thứ tự quan trọng rồi, hãy lưu ý đến sự cân đối tổng thể của bản đồ (xem Hình 6.11).  Hãy bố trí các thành phần của bản đồ dọc quanh đường biên một cách càng đều đặn càng tốt để tránh việc dồn sát hoặc ngược lại, tạo những khoảng trống lớn. Khi thực hiện cân bằng, hãy tính đến màu sắc, hình dáng, kích thước của cả khung bản đồ lẫn những thành phần khác của bản đồ.

Hình 6.11: Map balance. The map on the right displays little white space with its symmetrical layout. Asymmetrical layouts also work as long as they minimize white space and present the map features in a logical interpretive order

Hình 6.11: Sự cân đối trong bản đồ. Ở bản đồ bên phải, ta thấy bố cục đối xứng với ít khoảng trắng. Những bố cục phi đối xứng cũng được miễn là phải giảm thiểu khoảng trống và trình bày các địa vật theo thứ tự dẫn giải hợp lý.

4. Độ tương phản nhìn thấy
Sự tương phản chắc sẽ gây ấn tượng mạnh. Điều quan trọng là bạn phải thiết lập được bậc thang kế thừa cho cả những địa vật biểu diễn số liệu—địa vật lớn và sẫm màu sẽ nổi bật (chẳng hạn, hãy xem các Hình 6.5 và 6.6)—lẫn chữ viết (phông chữ lớn cần được dành cho dòng chữ quan trọng nhất). Sự tương phản hợp lý sẽ giúp người xem bản đồ thấy được điều quan trọng nhất. Nó đập ngay vào mắt. Những địa vật còn lại sẽ chìm vào nền. Các nhà tâm lý học nói rằng những mảng sẫm màu, những mẫu họa tiết đậm, các hình dạng phức tạp, và địa vật đặc biệt dễ nhận thấy sẽ nổi bật lên; vì vậy hãy đảm bảo rằng đó chính là những địa vật bạn cần nêu bật trên tấm bản đồ.

5. Sự rõ ràng và dễ đọc
Bản đồ bạn lập cần phải vừa rõ ràng vừa dễ đọc. Rõ ràng nghĩa là đừng chồng chất quá nhiều thông tin lên bản đồ; và là đặt những thành phần của bản đồ vào vị trí hợp lý. Hãy tự hỏi bản thân, liệu bản đồ có ý nghĩa không? Nó rõ ràng không? Được trình bày đẹp không?

Để dễ đọc, hãy tô đậm những đường nét và làm cho các sắc màu trên bản đồ choropleth tách biệt với nhau. Khi cần phải phân biệt, hãy cho thấy sự khác nhau giữa các địa vật bằng cách dùng những kích thước khác nhau (điểm chấm, bề rộng nét vẽ, cỡ phông chữ), các họa tiết khác nhau (đường liền nét / đứt nét / đường chấm chấm), và các màu sắc khác nhau. Chẳng hạn, những thành phố lớn có thể được nhận diện bằng một ô vuông đen lớn và nhấn mạnh bằng phông chữ lớn hơn so với các thành phố nhỏ và thị trấn. Những tuyến đường cao tốc có thể được nhấn mạnh bằng nét vẽ dày hơn và đậm hơn so với đường ít xe cộ đi lại.

6. Đối với các loại bản đồ choropleth và kí hiệu to nhỏ, hãy chọn một phương pháp phân loại thích hợp.
Để lập nên bản đồ kí hiệu to nhỏ hoặc choropleth, bạn cần giải đáp hai câu hỏi:   1) Phương pháp phân loại nào sẽ hiển thị dữ liệu hiện có một cách chính xác nhất? 2) Bạn sẽ có bao nhiêu mức phân loại? Câu hỏi đầu tiên hướng về một điều quan trọng: bạn cần phải biểu diễn, càng chính xác càng tốt sự phân bố nội tại những giá trị thuộc tính của trường.  Ta sẽ gọi nó đơn giản là “hình dạng” của dữ liệu. Nhiệm vụ này có khó khăn—nhưng quan trọng—vì mục tiêu chung của việc hiện thị các giá trị thuộc tính lên bản đồ là để khái quát hóa dữ liệu nhằm trình bày hoặc gợi mở dạng mẫu không gian của nó. Việc dùng cách phân loại sai sẽ làm méo mó số liệu và ẩn đi những dạng mẫu không gian. Có nhiều phương pháp phân loại bao gồm khoảng chia đều, số phần trăm, cấp số cộng, độ lệch chuẩn, và chia cắt tự nhiên. (Những cách này sẽ được đề cập dưới đây.)

Đáp án của câu hỏi thứ hai có thể sẽ đến theo cách tự nhiên hơn. Nếu bạn có quá ít mức phân loại thì bản đồ có thể giấu đi sự phân bố dữ liệu. Quá nhiều mức phân loại cũng không đem lại kết quả, và cũng không có khả năng gợi mở những dạng mẫu không gian.  Hơn nữa, đa số người xem bản đồ rất khó phân biệt hơn 7 mức. Trừ một số bản đồ hiển thị dữ liệu định danh, thì từ 7 mức trở lên là quá nhiều và bản đồ trở thành một bảng minh họa. Hãy để dạng phân bố của dữ liệu giúp bạn quyết định chọn bao nhiêu mức. Hãy tạo một histogram cho trường thuộc tính mà bạn muốn vẽ bản đồ (xem Tính toán đặc trưng thống kê mô tả trong Chương 5).  Thường thì bạn sẽ phát hiện được những điểm gãy giúp cho việc phân định các mức. Việc này cần ít nhiều rèn luyện, song sẽ dần trở nên dễ hơn. Có những trường hợp, hình dạng dữ liệu chẳng cho bạn biết mấy thông tin, và bạn sẽ có thêm quyền quyết định số mức phân loại.

Xét về phương pháp phân loại, các Hình từ 6.13 đến 6.17 minh họa trung vị về tuổi của dân cư trên 58 địa hạt thuộc bang California. Mặc dù chúng có cùng thuộc tính và đều có 5 mức phân lại, nhưng trông chúng hơi khác nhau vì mỗi bản đồ lại dùng một phương pháp phân loại khác nhau. Bản đồ thứ nhất dùng khoảng chia bằng nhau (Hình 6.13), bản đồ thứ hai chia theo số phần trăm (Hình 6.14), bản đồ thứ ba theo cấp số cộng (Hình 6.15), bản đồ thứ tư dùng độ lệch chuẩn (Hình 6.16), và bản đồ cuối cùng dùng khoảng chia tự nhiên có sự can thiệp từ người dùng (Hình 6.17).

Ngay cả khi các bản đồ sử dụng cùng một trường thuộc tính, thì chúng vẫn truyền đạt những dạng mẫu không gian khác nhau. Các trường thuộc tính khác có thể còn cho thấy những khác biệt nữa giữa những tấm bản đồ này. Trong ví dụ này, sự khác biệt giữa 5 tấm bản đồ phần nào tinh vi, nhưng vẫn cho thấy khác biệt. Phương pháp khoảng chia đều dường như nhấn mạnh những giá trị dân số thấp nhất, còn phương pháp cấp số cộng nêu bật các mức cao nhất. Bạn dùng những phương pháp chia khoảng khác nhau để khái quát hóa những kiểu phân bố dữ liệu khác nhau. Mỗi phương pháp phân loại thích hợp với một “hình dáng” riêng của dữ liệu.

Do vậy, bước đầu của việc chuẩn bị một bản đồ choropleth hoặc bản đồ kí hiệu to nhỏ là việc khảo sát hình dáng của bất kì tập số liệu nào cần lập bản đồ (ví dụ như bên trái các Hình từ 6.13 đến 6.17).  Để làm như vậy, bạn cần vẽ một histogram (hoặc biểu đồ điểm chấm) cho dữ liệu và áp dụng toán thống kê mô tả cơ bản để khảo sát hình dáng và phân bố của dữ liệu. Như đã nêu trên, nhiều chương trình GIS cung cấp lựa chọn để vẽ đồ thị số liệu và tự động tính các đặc trưng thống kê mô tả như trị trung bình, số đông, trung vị, khoảng, và độ lệch chuẩn (xem Chương 5).  Hình 6.12 cho thấy các hình dáng chung khác nhau của số liệu.

Hình 6.12: Các hình dáng chung của số liệu. Hình dáng này sẽ quyết định phương pháp phân loại được sử dụng.

Hình 6.12: Các hình dáng chung của số liệu. Hình dáng này sẽ quyết định phương pháp phân loại được sử dụng.
Nhiều đỉnh | Chuẩn (một đỉnh, đối xứng)
Lệch (chữ J) | Chữ nhật (phẳng)

Trong việc khái quát hóa các phân bố thống kê, người lập bản đồ dùng thuật ngữ “điểm chia ” (cutpoint) để chỉ biên giới giữa các mức. Những phương pháp phân loại được xét đến ở đây khác nhau về việc ấn định điểm chia. Một số những phương pháp thông dụng nhất để phân khoảng bao gồm:

A.  Khoảng chia đều (cũng gọi là bước nhảy đều hay kích thước đều) – Phương pháp này lấy hiệu số giữa các giá trị cao và thấp trong một phân bố rồi chia hiệu số này thành từng khoảng có bề rộng bằng nhau. Nếu một phân bố có các giá trị thấp là 0 và cao là 10, và bạn muốn chia thành 5 mức thì các điểm chia sẽ là: 0, 2, 4, 6, 8, và 10.  Từng mức sẽ được phân biệt rõ bằng màu sắc hoặc họa tiết riêng. Phương pháp này hữu dụng với các phân bố chữ nhật (phân bố đều).

Hình 6.13: Phương pháp phân loại khoảng chia đều.

Hình 6.13: Phương pháp phân loại khoảng chia đều.

B.  Phần đều (và Phần trăm) – Phương pháp này sắp xếp những giá trị thuộc tính hiện có từ thấp lên cao rồi chọn các mức sao cho thu nạp cùng số giá trị đo được. Nếu dữ liệu của bạn gồm 100 giá trị đo và bạn muốn chia dữ liệu thành 5 mức, thì 20 giá trị thấp nhất sẽ nằm trong mức dưới cùng, 20 giá trị cao hơn tiếp theo xếp vào mức giá trị thứ hai, và cứ như vậy đến 20 giá trị cao nhất xếp lên mức trên cùng (mức số 5). Phương pháp phần trăm cũng giống phương pháp phần đều; nhưng lại đặt những phần trăm bằng nhau số các giá trị đo vào từng mức. Cả hai phương pháp này đều thích hợp với phân bố chữ nhật.

6.14

Hình 6.14: Phương pháp phân loại phần đều (ở đây là 5 phần đều).

C.  Cấp số cộng – Trong phương pháp này, bề rộng của từng khoảng phân mức được tăng dần theo cấp số (như cấp số cộng, thậm chí cấp số nhân, v.v.). Nếu mức thứ nhất rộng 1 đơn vị và bạn cho tăng bề rộng mỗi mức thêm một đơn vị, thì mức thứ hai sẽ rộng 2 đơn vị, mức thứ ba rộng 3 đơn vị, và cứ như vậy đến cuối khoảng phân bố. Phương pháp này áp dụng được cho số hiệu hình chữ J hay số liệu có phân bố lệch rõ rệt (kể cả lệch dương lẫn lệch âm).

Hình 6.15: Phương pháp phân loại cấp số cộng.

D.  Độ lệch chuẩn – Ở phương pháp này, độ lệch chuẩn của phân bố được dùng để xác định các điểm chia phía trên và dưới trị trung bình. Phương pháp này chỉ nên được áp dụng cho những phân bố xấp xỉ với phân bố chuẩn, hay dạng hình quả chuông.

Hình 6.16: Phương pháp phân loại theo độ lệch chuẩn.

Hình 6.16: Phương pháp phân loại theo độ lệch chuẩn.

E.  Điểm gãy tự nhiên (không liên tục) – Phương pháp phân loại này tạo ra các mức bằng cách nhóm những cụm giá trị tương đồng nhau. Nếu dữ liệu của bạn có nhiều đỉnh, thì các chỗ trũng xen giữa sẽ là điểm chia. Bạn có thể tự tay điều chỉnh những điểm chia này khi quan sát phân bố dữ liệu bằng mắt thường. Đây là một phương pháp tốt đối với những bộ số liệu có nhiều đỉnh hoặc số liệu không xấp xỉ theo bất kì đường phân bố nào nêu trên.

Hình 6.17: Phương pháp phân loại điểm gãy tự nhiên.

Hình 6.17: Phương pháp phân loại điểm gãy tự nhiên.

7. Cân nhắc về chữ viết.
Chữ ghi trên bản đồ rất quan trọng. Hãy dự định ghi những gì trong quá trình vẽ phần hình bản đồ. Tất cả chữ cần phải để người xem đọc được, vì vậy đừng viết tắt; hãy viết từ trái sang phải, tránh viết theo chiều dọc, và đừng dùng những từ ngữ bí hiểm hoặc quá phóng đại. Một ngoại lệ là chữ viết tắt U.S.; ít nhất là người Mỹ xem bản đồ cũng hiểu được.

Đồng thời, hãy ghi những dòng thông báo nhỏ trên bản đồ để chú thích cho một số dạng mẫu. Hãy nhờ người khác đọc và diễn giải chữ trên bản đồ bạn lập nên. Nếu ai đó cảm thấy nhầm lẫn, hãy viết lại dòng thông báo trong trường hợp cần thiết.

Mẫu tự là vẻ bề ngoài của kiểu chữ. Từng kiểu chữ phải rõ ràng, chuẩn xác, và vừa phải. Cũng như bản đồ, chữ phải dễ đọc và rõ ràng.

Có bốn yếu tố chính của kiểu chữ: phong cách, hình dạng, kích thước, và độ tương phản. Phong cách chữ để chỉ phông chữ và sự hiện diện của chân chữ (serif). Phông là hình dạng và mẫu chữ. Có hàng ngàn phông khác nhau, trong đó gồm Helvetica, Arial, Universal, Times, và Courier.  Nói chung, hãy cố gắn gói gọn bản đồ theo một loại phông chữ. Hai loại phông cũng được, nhưng bạn phải có lý do thỏa đáng cho việc dùng thêm phông này. Đừng chọn một phông quá cầu kì. Nó sẽ bắt mắt người đọc, trong khi đáng ra bạn muốn chủ đề (dữ liệu) của bản đồ đến mắt người đọc trước.

Serif là những khấc ngắn ở đầu hoặc chân của một số chữ cái. Sans-Serif là những phông chữu không có các khấc này. Nghiên cứu cho thấy phông sans-serif đọc được nhanh hơn, nhưng có ít thông tin đọng lại. Phông serif cho phép hiểu rõ hơn, có thể là vì những chữ cái có khấc thì khác biệt nhau nhiều hơn. Về nguyên tắc, hãy dùng phông serif với những chữ lớn, nhưng đứng quá văn hoa. Còn font sans-serif lại là chọn lựa hợp lý với phông chữ nhỏ hơn vì chúng dễ thấy hơn.

Hình 6.18: Các phông serif và san-serif.

Hình 6.18: Các phông serif và san-serif.

Dạng của kiểu chữ bao gồm cách viết in hay viết thường, hoặc hỗn hợp, chữ nghiêng, và chữ đậm.  Chữ in cho ta biết nội dung quan trọng, nhưng chữ in cũng khó đọc hơn, vì vậy hãy cố dùng chủ yếu là chữ hỗn hợp. Những tựa đề sách, tên sông, hồ, biển, cùng các tựa đề tham khảo cần được viết nghiên (chứ không phải gạch chân). Viết gạch chân sẽ bắt mắt người đọc quá mức.

Kích thước của kiểu chữ theo truyền thống được đo bằng điểm (point).  1 điểm thì bằng 1/72 của inch.  Ngày càng có nhiều hệ thống dufgn những đơn vị thông dụng như inch hoặc mili-mét để đo kích thước.

Độ tương phản của kiểu chữ với nền rất quan trọng đối với mức độ dễ đọc. Kiểu chữ bạn chọn phải luôn nổi bật trên nền trừ trường hợp bạn muốn dòng chữ nhỏ ẩn đi trên bản đồ. Thêm vào bóng chữ thường làm mờ chữ đi, vì vậy bạn có thể xóa bỏ bóng chữ nếu khó nhìn.

On maps, text is used for titles, legends, explanations, source statements, labels, scales, and other map features.  Specifics regarding text for these map elements are discussed in the following sections.

8. Tiêu đề và phụ đề.
Tiêu đề phải có liên quan rõ rệt với chủ đề của bản đồ. Những tiêu đề hay đòi hỏi suy nghĩ khi đặt, và những yếu tố sau nên được xét đến: đặt tiêu đề rõ ràng, ngắn gọn, và bắt đầu tiêu đề bằng chủ đề của bản đồ (danh từ) nếu có thể. Đừng bao giờ bắt đầu tiêu đề bằng từ “Bản đồ…”

Phụ đề thường được dùng trong một loạt những bản đồ để chỉ sự thay đổi vị trí, thời gian, hoặc hoàn cảnh. Phụ đề nên được dành cho thông tin chi tiết và luôn viết nhỏ hơn tiêu đề.

9. Chú giải.
Phần chú giải chứa nội dung giải thích và liệt kê những kí hiệu dùng trên bản đồ. Kí hiệu trong chú giải cần xuất hiện đúng như trên bản đồ. Không phải bản đồ nào cũng cần chú giả; đôi khi thông tin cần thiết được ghi trên tiêu đề hoặc nhãn hiệu của một đối tượng [địa vật].

Khi ghi chú giải, hãy viết rõ ràng và ngắn gọn; cố gắng không lặp lại những từ đã xuất hiện ở tiêu đề và phụ đề. Nội dung chú giải cần giải thích những kí hiệu, nhưng đừng dùng những chữ như “Kí hiệu của …”.  Điều này là hiển nhiên.

10. Thước tỉ lệ.
Bạn phải vẽ một thước tỉ lệ, trừ khi người xem đã rất quen thuộc với khu vực trên bản đồ hoặc khi khoảng cách không quan trọng. Đừng viết thêm chữ “Thước tỉ lệ” kèm theo thước này. Có các hình thức biểu diễn thước bằng chữ, bằng số (như 1:24.000), và bằng hình; song bằng hình là cách được ưa chuộng vì chúng vẫn giữ kích thước tương đối khi bản đồ được thu nhỏ hoặc phóng to.

Hình 6.19: Các loại thước tỉ lệ.

Hình 6.19: Các loại thước tỉ lệ.

11. Chú dẫn về nguồn.
Hầu hết những bản đồ chuyên đề đều có chú dẫn về nguồn và ngày tháng thu thập số liệu. Nếu bạn dùng tài liệu có bản quyền, bạn phải xin phép, và nhà xuất bản có quyền quyết định cách viết lời chú dẫn này. Những dòng chữ khác bạn có thể ghi thêm vào bao gồm tên người lập bản đồ và phép chiếu (hệ tọa độ) của bản đồ.  Đa phần những thông tin này cần được ghi ở phía dưới bản đồ (có thể gần mép bên tay phải) và chữ nên viết nhỏ (thường là những chữ nhỏ nhất trên tờ bản đồ).

12.  Ghi nhãn hiệu.
Nhãn hiệu giúp cho việc miêu tả những địa vật và khả năng gắn những lời miêu tả này một cách linh hoạt vào từng địa vật điểm, đường, và đa giác. Nhà bản đồ học người Thụy Sỹ, Eduard Imhof (1975) đã đề xuất sáu nguyên tắc cơ bản cho việc đặt nhãn hiệu. Theo dó, các nhãn hiệu phải:

  • đọc được rõ ràng.
  • có mối liên hệ rõ với những địa vật mà chúng mô tả.
  • không được làm rối những nội dung khác trên bản đồ.
  • trợ giúp việc biểu thị kích thước của địa vật.
  • phản ánh sự phân loại và cấu trúc kế thừa của địa vật.
  • không cách nhau đều đặn, cũng không cụm vào nhau.

Những nguyên tắc phụ thêm có thể bao gồm:

  • ghi tên lên vùng đất hoặc vùng biển
  • chữ không chạy uốn cong trừ khi cần thiết (như chạy theo dòng sông)
  • được ưu tiên ghi phía trên các đường nét
  • được nối với địa vật bằng một mũi tên nếu nhãn hiệu không thể đặt gần địa vật được.

Việc đặt vị trí của chúng có thể khó khăn và đôi khi gây bực mình. Có thể không thỏa mãn được tất cả những nguyên tắc đặt nhãn hiệu như trên. Như Imhof đã nhấn mạnh: “chẳng quy tắc nào mà không có ngoại lệ” (1975, 29).  Hai quy tắc thường đối nghịch nhau. Bạn phải xét từng xung đột riêng rẽ, rồi chọn giải pháp tối ưu.

13. Mũi tên chỉ hướng Bắc.
Trừ trường hợp hiển nhiên [phía trên bản đồ quay về hướng Bắc], hãy vẽ mũi tên chỉ hướng Bắc, nhưng với kích thước nhỏ và đơn giản.

14. Cách dùng màu.
Màu có thể làm nổi bật đáng kể thông tin bạn cần đưa ra, hoặc cũng có thể đánh lạc hướng người đọc. Có quá nhiều trường hợp dùng sai, mà Edward Tufte đã cảnh báo ta về cách dùng màu. Ông viết:  “Above all, do no harm” [Trên hết, đừng gây hại gì.] (1990, 81).

Màu có thể dùng để tô toàn bộ bản đồ, song những quyết định quan trọng nhất về dùng màu sẽ là để tô những địa vật và đặc biệt là chủ đề cần biểu thị. Với chủ đề của bản đồ, sự lựa chọn màu phụ thuộc vào việc dữ liệu bản đồ là định tính hay định lượng (xem Chương 2).  Bản đồ định tính tốt nhất là được tô bằng các màu khác biệt hẳn (hoặc các họa tiết khác hẳn trên bản đồ đen-trắng), mỗi màu có cùng trọng lượng hoặc độ sáng. Không nên dùng một bảng màu có thứ tự, thường là đơn sắc, với một sắc duy nhất biến đổi từ nhạt sang đậm. Bảng màu kiểu như vậy tự ngụ ý rằng một màu (và do đó, một mức phân loại) này là lớn hơn cái kia.

Nếu chủ đề có sử dụng dữ liệu định lượng, bạn phải quyết định xem dữ liệu này thuộc dạng một cực hay hai cực. Phần lớn dữ liệu đều là một cực, theo nghĩa không có điểm chia tự nhiên nào có ý nghĩa. Diện tích và giá cả của một lô đất là ví dụ. Đối với dữ liệu một cực, nên dùng bảng màu thứ tự. Hình dung một bảng màu từ xanh nhạt đến xanh vừa và kết thúc bằng xanh đậm. Mắt ta có khuynh hướng bị dẫn dắt bởi dạng mẫu đậm-nhạt này, và màu đậm (mực của Tufte) sẽ bắt mắt trước. Bởi vậy, (như thường lệ), sắc đậm nên dùng để chỉ lượng “nhiều hơn”.

Dữ liệu hai cực thì khác; nó có một điểm chia ý nghĩa. Tốc độ tăng dân số tự nhiên của các nước là ví dụ. Đa số các nước đều có tốc độ sinh cao hơn tử vong, vì vậy tốc độ tăng dân cư là dương. Tuy nhiên, một số nước có tỉ lệ tăng dân cư âm. Trong trường hợp này, số không là điểm chia rõ ràng cho các giá trị thuộc tính.  Trị trung bình và trung vị của thuộc tính cũng có thể được dùng để phân chia số liệu (nhưng nó phải hợp lý). Đối với dữ liệu hai cực, một bảng màu phân nhánh—tức là có hai sắc riêng biệt—nên được dùng.  Một ví dụ là bảng màu khởi đầu bằng xanh lục đậm, dần nhạt đi đến giống màu xám, sau đó chuyển sang hồng nhạt rồi tiếp tục đậm lên thành đỏ sẫm.

Trong mọi trường hợp, màu của từng mức phải phân biệt rõ với những màu của mức khác. Đôi khi màu này có vẻ như phân biệt rõ rệt trên màn hình máy tính nhưng nếu mục đích là in ra bản đồ giấy thì bạn phải thử xem bản in (vì màu có thể sẽ đổi khác đi). Cũng cần lưu ý rằng màu thay đổi theo từng máy in (và thậm chí từng mẫu mã sản xuất bởi cùng một hãng máy), cho nên bạn phải cẩn thận. Nếu bạn dùng máy chiếu để hiển thị bản đồ, hãy hiểu rằng một số màu (như vàng) trở nên mờ hẳn và rất khó nhìn trên màn chiếu. Đồng thời, các địa vật màu trên nền xám nhạt hoặc nền màu tái [màu cơ bản trộn xám để giảm bớt tông màu] sẽ nổi bật hơn. Cách này cũng giúp mắt người xem đỡ căng thẳng.

Đã có nhiều lý thuyết được phát triển nhằm giúp người lập bản đồ trong việc chọn màu. Như đã thảo luận ở trên, các màu khác nhau có liên hệ với cảm xúc và văn hóa riêng. Ngoài ra, có những màu mà không được người khác nhau nhận biết như nhau; và một số màu trong đó nên tránh dùng. Nhà địa lý học Cindy Brewer đã phát triển ColorBrewer (http://colorbrewer2.org/) để giúp bạn chọn các bảng màu khác nhau, và cho thấy chúng làm thay đổi kết cách bạn nhìn nhận số liệu kết quả thế nào.

Hình 6.20: Colorbrewer 2.0 (http://colorbrewer2.org/).

Hình 6.20: Colorbrewer 2.0 (http://colorbrewer2.org/).

Các dạng kết quả đầu ra

Mặc dù còn có số liệu thống kê, biểu đồ, và báo cáo, song bản đồ vẫn là phương tiện chính để biểu diễn kết quả đầu ra của hệ thống GIS.  Chúng có thể dễ dàng hiển thị, in ấn, chỉnh sửa, và hiển thị lại.  Bản đồ đang hình thành những dạng mới, và chúng đang uốn cong khái niệm vốn có mà ta đang hình dung.  Trong khi các dạng bản đồ tĩnh (in ấn, chiếu trên máy hoặc hiện trên màn hình máy tính, về trên trang web) chiêm ưu thế, thì bản đồ động và bản đồ tương tác đã xuất hiện và đang thay đổi GIS và lĩnh vực bản đồ học.   Bạn thử hình dung việc xoay các lớp chủ đề trên một bản đồ tương tác, và nhìn vào mối quan hệ không gian từ các góc khác nhau.  Thậm chí, công nghệ multimedia [đa phương tiện] còn cho phép tích hợp cả âm thanh và video, khuyến khích những cách khác nhau nhằm tạo điều kiện trình bày bản đồ và phân tích không gian.

Tài liệu được trích dẫn

Eduard Imhof (1975) “Positioning Names on Map”, The American Cartographer, Vol. 2, No. 2, pp. 128–144.

Edward Tufte (1990) Envisioning Information, Graphics Press.

Mark Monmonier, H. J. de Blij (1996) How to Lie with Maps, 2nd ed., University of Chicago Press.

Advertisements